Ăn yến có tác dụng gì?

Updated: Jul 8

Axit sialic là hợp chất hoạt tính sinh học chính liên quan đến yến sào. Axit sialic bao gồm 9 - 12% trong YẾN SÀO, có lợi ích sức khỏe như thần kinh và chức năng não khỏe mạnh, hoạt động tăng cường miễn dịch, tăng cường trí nhớ. Các thành phần có hoạt tính sinh học khác như yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGF), N-acetylgalactosamine (galNAc), N-acetylglucosamine (glcNAc), galactose và fucose thể hiện hoạt động thần kinh, tái tạo sụn, chống viêm khớp, thành phần khoáng chất, hàm lượng axit amin và các thành phần polysacarit liên quan đến dinh dưỡng và sức khỏe của con người. Nhiều nghiên cứu đã báo cáo tác dụng dược lý của axit sialic đối với sức khỏe con người. Axit sialic là dẫn xuất thay thế N- hoặc O của axit neuraminic. Các chất dinh dưỡng glyco chính khác là N-acetylgalactosamine (galNAc), N-acetylglucosamine (glcNAc), galactose và fucose đã được báo cáo được tìm thấy trong các thành phần carbohydrate của yến sào. GalNAc rất quan trọng đối với chức năng của các khớp thần kinh, là điểm nối giữa các tế bào thần kinh; trong khi sự thiếu hụt GalNAc có thể dẫn đến mất trí nhớ. Có thể nói rằng GalNAc có thể cải thiện tình trạng của bệnh nhân Alzheimer. GlcNAc là một axit amin và tiền chất nổi bật của glycosaminoglycan, là thành phần chính của sụn khớp. Nó đã được báo cáo rằng việc tiêu thụ YẾN SÀO tương tự như glucosamine bổ sung trong việc ngăn ngừa sự suy giảm của sụn và trong việc làm giảm các triệu chứng liên quan đến viêm khớp .


Protein là chất dinh dưỡng chính rất quan trọng đối với các chức năng trao đổi chất, sửa chữa các mô cơ thể và phục hồi. Giá trị dinh dưỡng và các hợp chất hoạt tính sinh học của yến sào thành phần chính của yến sào yến là glycoprotein, được báo cáo hàm lượng protein thô trung bình trong glycoprotein yến sào yến nằm trong khoảng 50 - 65%. Marcone (2005) báo cáo hàm lượng carbohydrate của tổ chim yến là 27,26%. Theo Kathan và Weekks (1969), thành phần carbohydrate trong yến sào yến bao gồm 9% axit sialic, 7,2% galactosamine, 5,3% glucosamine, 16,9% galactose và 0,7% fructose.


Galactose và fucose rất quan trọng cho sự phát triển não bộ, thông tin liên lạc của tế bào và chúng có đặc tính kháng khuẩn. Có 18 loại axit amin, bao gồm tám loại axit amin thiết yếu là phenylalanine, valine, thronine, trpytophan, isoleucine, methionine, lysine và leucine. Yến sào cung cấp tất cả các axit amin cần thiết cho cơ thể con người, đặc biệt là sự phát triển và tái tạo tế bào. Đây là lý do tại sao súp yến sào yến luôn được tiêu thụ bởi các nhóm tuổi khác nhau bao gồm cả BỆNH NHÂN SAU PHẪU THUẬT VÀ PHỤ NỮ TRONG KHI MANG THAI HOẶC SAU KHI SINH EM BÉ. Các axit amin thiết yếu, cụ thể là lysine và tryptophan thường không có nguồn gốc từ protein thực vật. Một số nghiên cứu đã báo cáo rằng axit aspartic và serine là các axit amin chính được tìm thấy trong yến sào.


Axit aspartic và serine tan trong nước có đặc tính chữa lành da, rất cần thiết cho việc sản xuất năng lượng tế bào, điều hòa chức năng tế bào và tạo ra hệ thống miễn dịch bằng cách tổng hợp các miễn dịch và kháng thể. YẾN SÀO nuôi có chứa các khoáng chất như natri (650 ppm), kali (110 ppm), canxi (1298 ppm), magiê (330 ppm), phốt pho (40 ppm) và sắt (30 ppm) [5], trong đó natri, magiê và kali và canxi là thành phần khoáng chất chính trong YẾN SÀO. Những khoáng chất này rất cần thiết cho cơ thể con người vì chúng rất cần thiết cho việc kích hoạt nhiều phản ứng enzyme trong cơ thể con người. Chẳng hạn, natri cân bằng chất điện giải, thể tích dịch cơ thể; duy trì tình trạng xung thần kinh trong khi magiê duy trì cân bằng kiềm và kiểm soát hoạt động thần kinh.


Chất chống oxy hóa


Tổ chim yến đã được báo cáo là có tính chất chống oxy hóa có lợi trong bệnh tim mạch. Tỷ lệ mắc bệnh tim mạch ngày càng tăng so với người dùng và phụ nữ sau khi mãn kinh có nguy cơ mắc bệnh chuyển hóa cao hơn. Hou et al. (2015) đã đánh giá hiệu quả dinh dưỡng của yến sào yến trên chuột cái đã rụng trứng. Những con chuột cái được cho ăn với tổ chim yến trong 12 tuần và các dấu hiệu trao đổi chất được đo vào cuối thí nghiệm. Các tác giả đã báo cáo rằng yến sào đã cải thiện đáng kể mức độ superoxide effutase (SOD), 30 insulin, estrogen, malondialdehyd, lipid và xét nghiệm dung nạp glucose. Ngoài ra, yến sào có thể tạo ra sự điều hòa phiên mã các gen báo hiệu insulin ở gan giúp tăng cường cân bằng nội môi của lipid và glucose cũng như độ nhạy insulin. Do đó, các tác giả cho rằng yến sào có thể có khả năng làm giảm nguy cơ thiếu hụt estrogen liên quan đến bệnh tim mạch.